Hi quest ,  welcome  |  sign in  |  registered now  |  need help ?
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giới thiệu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giới thiệu. Hiển thị tất cả bài đăng

Công cụ tài chính bảo vệ DN tránh rủi ro

Written By Unknown on Thứ Tư, 7 tháng 3, 2012 | 06:40

Việc này đặt ra nhu cầu cần thêm các công cụ phòng ngừa rủi ro trên thị trường tài chính để bảo vệ các DN khi tham gia cạnh tranh trong một thị trường liên tục biến động về tỷ giá, lãi suất, giá cả hàng hoá.

Hợp đồng tương lai, một lối ra
Cong cu tai chinh bao ve DN tranh rui ro
Xuất khẩu gạo đã không ít lần lao đao vì thiếu công cụ tài chính bảo vệ.
Giao dịch bằng hợp đồng tương lai lần đầu tiên trên thị trường Việt Nam được khởi động mới đây, giữa Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) và C
Ông Vân Thành Huy - Giám đốc Inexim Đắk Lắk, Chủ tịch Hiệp hội Cà phê Việt Nam - cho biết, đây là phương thức giao dịch theo thông lệ quốc tế rất phổ biến ở nhiều nước. Việc các DN Việt Nam bắt đầu tham gia giao dịch hợp đồng kỳ hạn sẽ rất quan trọng trong bảo vệ, phòng chống rủi ro khi giá cà-phê biến động mạnh.
Thị trường kỳ hạn là thị trường mua bán hàng hoá được giao và thanh toán ở một ngày nhất định trong tương lai nhưng theo giá thoả thuận hiện tại. Chẳng hạn, khi tham gia giao dịch tại thị trường kỳ hạn cà phê Lodon, DN sẽ thực hiện việc mua - bán cà phê bằng hợp đồng tương lai (futures). Giá cà phê được "chốt" ngay tại thời điểm đặt lệnh (là thời điểm mà giá cà phê trên thị trường quốc tế được DN "ưng ý" nhất), còn hàng thì giao sau với thời điểm do hai bên thỏa thuận. Điều quan trọng là, tại thời điểm giao cà phê, giá lên hay xuống thì vẫn giao theo giá đã được "chốt" lệnh từ trước.
Trước đây, khi chưa trực tiếp giao dịch tại thị trường kỳ hạn Lon don, DN xuất khẩu cà phê phải chịu rất nhiều thua thiệt. Thông thường, chênh lệch giữa giá chào bán cà phê Việt Nam với giá giao dịch trên thị trường kỳ hạn London khá lớn, luôn ở mức trên 100USD/tấn. Ví dụ như, trong khi hồi đầu tháng 9 năm ngoái, giá cà phê chào bán trung bình của các công ty Việt Nam là 540-550USD/tấn (khách mua cũng chỉ trả 520USD/tấn), thì giá giao dịch trên thị trường London giao tháng 11/2004 là 660USD/tấn; chưa kể nhiều thời điểm, mức giá còn lên đến trên 700USD/tấn.
Nay thì, nhờ giao dịch trực tiếp trên thị trường kỳ hạn London, DN không còn bị thua thiệt về chênh lệch giá như đã nói trên, thay vào đó DN chỉ phải chịu một khoản phí không đáng kể cho nhà môi giới (Techcombank). Khoản phí này là 10 USD/tấn cho mỗi giao dịch dưới 200 lot (lot là đơn vị tính cho mỗi hợp đồng 5 tấn cà phê nhân) và trên 1000 lot phí giảm còn 2 USD/tấn.
Ngoài việc bảo hiểm rủi ro về giá như Techcombank vừa khởi động, tại nước ngoài, các hợp đồng tương lai còn được sử dụng vào các mục đích khác như làm công cụ đầu tư với chi phí thấp (mua bán các hợp đồng tương lai nhằm kiếm lợi từ chênh lệch giá); Sử dụng hợp đồng tương lai như là một công cụ xác định giá của thị trường hàng thật.
Hiện, các sản phẩm ngoài cà phê có giao dịch trên thị trường tương lai thông qua Exchange là: Gạo (thị trường Thái Lan), Cao su (Tokyo), Coca, đường trắng (London, NY), Palm Oil, Soyoil, soybean (Malaysia, CBOT), lúa mì, bông, nước cam, ngô; đồng, nhôm, thiếc, niken …; Các sản phẩm tài chính: JBG, T-notes, T-bill, Eurodollar 3month; Các loại nhiên liệu: xăng dầu, khí đốt.
Khi giao dịch kỳ hạn được phổ biến và áp dụng được với nhiều mặt hàng, nhiều DN cho biết họ sẽ tự tin hơn khi bước ra thị trường thế giới và thành công hơn khi hội nhập, buôn bán với nước ngoài.
DN Việt không thiếu công cụ bảo hiểm...
Theo ông Trương Văn Phước - Vụ trưởng Vụ quản lý Ngoại hối, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) - các công cụ tài chính hỗ trợ các DN XNK đã có tương đối đầy đủ trên thị trường Việt Nam. Trong những năm qua, SBV đã đưa vào thị trường hầu hết các công cụ phổ biến để hỗ trợ DN như lấy giá giao ngay (spot), kỳ hạn (forward), hoán đổi (swap). Các nghiệp vụ bảo hiểm rủi ro tương đối phong phú như công cụ hoán đổi lãi suất, công cụ hoán đổi tiền tệ, các hợp đồng tương lai hàng hóa, hợp đồng quyền lựa chọn tiền tệ... Một số ngân hàng thương mại cũng áp dụng mua bán kỳ hạn, hoán đổi, giao ngay và quyền lựa chọn vàng trên thị trường quốc tế.
Ngoài spot, forward và swap đã khá quen thuộc với các DN, trong các công cụ tiền tệ có chức năng bảo hiểm cho các DN trong thanh toán, option được coi là công cụ hữu hiệu nhất. "Đi liền với rủi ro của tỷ giá là sẽ là lợi nhuận tăng thêm từ biến động tỷ giá, nếu chúng ta biết tận dụng một cách có khoa học"" - Phó Tổng giám đốc của Eximbank, ông Đào Hồng Châu nói. Ví dụ, nếu có 1 DN thay vì dùng đồng USD thanh toán cho hợp đồng với Pháp của mình lại chuyển qua yêu cầu phía đối tác thanh toán bằng Euro, đồng thời bỏ ra 1 ít tiền mua 1 hợp đồng Put Option với Eximbank, thì hai tháng sau, khi họ nhận được Euro thì họ hưởng lợi rất nhiều từ việc USD mất giá mạnh so với Euro như vừa qua so với việc đơn thuần nhận thanh toán USD.
Spot: Hai bên thực hiện mua, bán một lượng ngoại tệ theo tỷ giá giao ngay tại thời điểm giao dịch và kết thúc thanh toán trong vòng 2 ngày làm việc tiếp theo. Giao dịch này phù hợp với các doanh nghiệp có nguồn thu chi ngoại tệ nhỏ, không có kế hoạch ổn định.

Sau khi đưa option vào áp dụng cách đây hơn 2 năm tại Eximbank, SBV lần lượt cho phép 6 ngân hàng khác là Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank), Citibank, Vietcombank, Ngân hàng Công thương Việt Nam (ICB) và Ngân hàng Hongkong Bank chi nhánh TP.HCM được thực hiện thí điểm Option. Nhưng kết quả thu được không như mong muốn, không nhiều DN biết đến và sử dụng option. Vì thế, nghiệp vụ này không những ra đời muộn màng ở Việt Nam mà còn chưa hấp dẫn các DN.
Một dịch vụ khác đã có ở Việt Nam nhưng ít DN XNK biết tới, đó là tài khoản bảo chứng (margin account). Theo TBKTSG: "Nếu bạn ký hợp đồng tương lai mua thép trong 3 tháng nữa, trị giá hợp đồng 100 triệu đồng. Nếu giá thép thực tế trong 3 tháng nữa lên 10%, bạn sẽ lời khoảng 10 triệu đồng (chưa tính phí). Nhưng nếu giá giảm 10%, bạn sẽ lỗ chừng 10 triệu. Như vậy bạn đâu cần đến 100 triệu mới đủ khả năng thực hiện hợp đồng mà chỉ cần 10 triệu. Bạn có thể đến công ty môi giới chứng khoán mở tài khoản bảo chứng. Công ty sẽ cho bạn vay tiền mua hợp đồng tương lai trị giá 100 triệu".
Bên cạnh sử dụng option, Ngân hàng Hongkong và Thượng Hải tại Việt Nam (HSBC) vừa thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất lần đầu tiên giữa USD và VND cho một công ty đa quốc gia với số vốn lên tới 15 triệu USD trên thị trường Việt Nam. Với giao dịch này, khách hàng sẽ đạt được mức lãi suất cạnh tranh nhất trên thị trường nội địa cho việc vay vốn VND mà không phải chịu bất cứ rủi ro nào về tỷ giá USD/VND.
Còn bao thanh toán là dịch vụ nhằm hỗ trợ các DN bán hàng trả chậm. Theo đó, tổ chức tín dụng (đơn vị bao thanh toán) sẽ ứng tiền trước cho bên bán hàng và sẽ thu lại tiền của bên mua hàng sau. Việc tham gia của các ngân hàng trong vai trò người thứ ba sẽ giúp bổ sung vốn lưu động cho khách hàng, thúc đẩy thương mại trong nước và quốc tế. Đây là hình thức hỗ trợ các DN xuất nhập khẩu thông qua hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng bằng việc mua lại các khoản phải thu từ việc mua, bán hàng hóa đã được bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận (trong hợp đồng mua, bán hàng).
Ông Trương Văn Phước cho biết, đây cũng là các công cụ tài chính phục vụ XNK chủ yếu hiện có trên thị trường thế giới. Ngoài ra, các ngân hàng còn áp dụng các dịch vụ hỗ trợ DN XNK như FRA (Future Rate Agreement - Thoả thuận lãi suất trong tương lai) hay Swaption (Kết hợp hoán đổi giữa các quyền lựa chọn)... nhưng các dịch vụ này cũng không phổ biến và hơi phức tạp. Cái mà chúng ta cần làm mạnh hơn hiện nay chỉ là phổ biến để các DN sử dụng thành thạo hơn các công cụ này để tăng thêm những hiệu quả kinh doanh mà thôi.

DN phải chủ động hơn

Phó Tổng giám đốc của Eximbank, ông Đào Hồng Châu cho rằng, nhiều người khi đề cập đến option thường đề cập đến mặt rủi ro của tỷ giá và làm thế nào để tránh rủi ro bằng cách dùng option. Tuy nhiên, vấn đề lại là nhiều giám đốc DN XNK không muốn đối mặt với rủi ro đó và cũng vì sợ rắc rối, DN cứ dùng thẳng USD, không phải lúc nào cũng thiệt nhưng đến khi thiệt thì đã muộn.
Các DN cà phê thì đang băn khoăn là khi thực hiện tham gia thị trường giao dịch cà phê có phải xin phép cơ quan nào không? Chính vì vậy mà sự chủ động không cao.
Theo quan điểm của Hiệp hội Cà phê Ca cao, đây là vấn đề mà Nhà nước không cấm thì đương nhiên DN được phép làm. Tuy nhiên, Nhà nước cần sớm hoàn thiện môi trường pháp lý cho phù hợp với thông lệ quốc tế để các DN hội nhập thuận lợi hơn.
Ông Đoàn Triệu Nhạn - Phó Chủ tịch đối ngoại Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam cũng cho rằng: "Nhà nước cần có một cơ chế mới, tức là cho phép DN đầu tư vốn ra nước ngoài. Bởi vì muốn tham gia thị trường kỳ hạn thì phải có tiền đặt cọc, tiền mua chỗ ở Luân Đôn. Muốn vào thị trường đó thì phải bỏ tiền ra trước, sau khi mua bán diễn tiến, tiền đó sẽ được chuyển hóa ở nước ngoài".

Còn tại Việt Nam, Nhà nước hiện chưa có qui định nào về hoạt động ở thị trường giao dịch kỳ hạn quốc tế. Tạm thời Ngân hàng Nhà Nước cho phép Techcombank thực hiện thí điểm một năm, ngân hàng này sẽ đóng vai trò đại lý giao dịch làm cầu nối cho các nhà xuất khẩu Việt Nam và thương nhân cà phê quốc tế tại sàn giao dịch Luân Đôn. Tuy nhiên trong số rất nhiều DN xuất khẩu cà phê Việt Nam, chỉ có vài công ty có đủ khả năng tham gia thị trường kỳ hạn.
Mặc dù vậy, các chuyên gia vẫn cho rằng, chẳng có chốt giá bảo vệ nào là hoàn hảo tuyệt đối. Vì vậy, để đạt được hiệu quả cao thì các DN cần nghiên cứu, học hỏi sâu thị trường và phân tích tốt các yếu tố kỹ thuật. Từ đó, có chiến lược kinh doanh phù hợp, sử dụng linh hoạt, hợp lý quyền lựa chọn mua và bán của mình trong thị trường kỳ hạn.
06:40 | 0 comments

Định nghĩa về Vàng tài khoản - Margin GOLD Trading

Written By tui laphuongl ke on Thứ Năm, 1 tháng 3, 2012 | 20:34



Tác giả
Trần Trọng Quốc Khanh
Giám đốc Trung tâm Vàng Ngân hàng Á Châu (ACB)
Có hay không “vàng ảo”?
Hoạt động kinh doanh vàng tài khoản ở nước ngoài đã bị ngừng từ tháng 7/2010. Khái niệm “vàng ảo” chưa phản ánh đúng bản chất vấn đề và gây ra nhiều ngộ nhận không cần thiết.
Từ khi Việt Nam xuất hiện hoạt động kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài (2006) và kinh doanh vàng tại các trung tâm giao dịch vàng hay còn gọi là sàn vàng (2007), một số phương tiện truyền thông trong nước thường đề cập đến khái niệm “vàng ảo”.

Tuy nhiên, theo người viết, khái niệm “vàng ảo” chưa phản ánh đúng bản chất vấn đề và gây ra nhiều ngộ nhận không cần thiết đối với các nhà đầu tư, nhà phân tích, nhà quản lý và nhà hoạch định chính sách.
Nhiều bài viết về thị trường vàng có vẻ thích dùng từ “vàng ảo” (viết nháy trong ngoặc kép). Tuy nhiên, nội dung bài viết thường chỉ mô tả được một vài khía cạnh đơn lẻ trong quy trình kỹ thuật sản phẩm và thiếu góc nhìn toàn cục của hoạt động kinh doanh vàng, rồi đi đến kết luận bằng vài chữ đại loại “như thế là ảo”, hoặc “đó là vàng ảo”. Nói cách khác, một khái niệm mới được nêu ra, nhưng thiếu định nghĩa thấu đáo để có thể thảo luận.
Cái gọi là “vàng ảo” mà một số bài viết nêu lên thường muốn gắn kết với vàng trên tài khoản. Ngoài ra, còn có một số tình huống ngộ nhận khác cũng bị quy kết là “ảo”. Người viết kỳ vọng, việc phân tích cụ thể ba trường hợp dưới đây - xuất phát từ kinh nghiệm và cơ sở lý luận thực tiễn - sẽ giúp phản ánh đúng bản chất vấn đề của thị trường vàng dưới góc nhìn đa chiều và logic, qua đó chứng minh khái niệm “vàng ảo” là không có cơ sở.

Trường hợp 1: Vàng trên tài khoản không phải là vàng ảo 

 
Có lẽ do quá quen với cảnh mua bán vàng miếng ở Việt Nam (một cách thức giao dịch lâu đời, nhưng ẩn chứa nhiều bất tiện và rủi ro), nên người ta dễ có khuynh hướng xem vàng không tồn tại dưới dạng vật chất hữu hình là “vàng ảo”. Lập luận này thiếu căn cứ do không dựa trên nền tảng về chuẩn mực hạch toán kế toán.
Lấy ví dụ về một doanh nghiệp Việt Nam (gọi tắt là “Bên A”) xuất khẩu 100 kg vàng vật chất cho người mua ở Thụy Sĩ (gọi tắt là “Bên B”). Sau khi nhận hàng và khấu trừ mọi chi phí phát sinh, Bên B sẽ ghi có số dư vàng vào tài khoản vàng (metal account) của Bên A mở trên sổ sách kế toán của Bên B.
Chi phí phát sinh do Bên A chịu bao gồm: (i) phí tinh luyện nếu lô hàng có hàm lượng dưới 99,99% (refining cost), (ii) phí giám định (assaying cost), và (iii) phí nghiệp vụ (handling cost). Để đơn giản hóa ví dụ, giả định tổng chi phí của lô hàng là 1 kg vàng.
Vậy, số lượng 100 kg vàng vật chất sẽ được chuyển hóa hình thái thành số dư 99 kg vàng tài khoản. Thị trường tài chính quốc tế gọi vàng tài khoản là “loco London gold” (loco: viết tắt của chữ location, nghĩa là địa điểm), tức vàng tinh chất 99,99% đạt tiêu chuẩn quốc tế có thể giao dịch tự do tại thị trường London (Anh).
Từ hình thái ban đầu là vàng vật chất có tính năng như hàng hóa (commodity) ẩn chứa nhiều chi phí và rủi ro trong giao dịch (như kiểm đếm, lưu kho, vận chuyển, bảo hiểm, an ninh, thất lạc, mất mát, nhân công…), nay vàng tài khoản trở thành một công cụ có tính thanh khoản cao (liquidity) với đầy đủ tính năng như tiền tệ (currency), có thể dễ dàng thực hiện nhiều nghiệp vụ như: (i) chuyển khoản vàng (gold transfer), (ii) gửi vàng (gold deposit), (iii) ký quỹ (gold margin), (iv) cho vay (gold lending), (v) thế chấp (gold collateral), và (vi) mua bán (gold trading)…
Trở lại ví dụ trên, sau khi Bên B báo có số dư vàng cho Bên A, lúc này số dư vàng hạch toán trên tài khoản cũng hoàn toàn tương tự như số dư tiền gửi hạch toán trên tài khoản. Nói cách khác, Bên A là chủ sở hữu số dư vàng, còn Bên B là người đang nợ số dư vàng đó.


Với tư cách là chủ sở hữu số dư vàng, Bên A có thể ra lệnh điều chuyển vàng sang nơi khác hoặc bán số dư vàng lấy USD. Với số dư USD này (giống như thu ngoại tệ hàng xuất), Bên A có thể tùy nghi sử dụng phù hợp với quy định quản lý ngoại hối hiện hành hoặc có thể bán USD lấy VND, mang VND gửi ngân hàng hoặc rút VND tiền mặt nộp quỹ công ty mình.
Quy trình xuất khẩu vàng nói trên cho thấy bước khởi đầu là vàng thực và bước cuối cùng là tiền thực, dù tiền USD hay tiền VND. Vậy, với điểm xuất phát và điểm kết thúc đều là thực, nếu xem vàng trên tài khoản là vàng ảo, liệu có thể chấp nhận cách lập luận thiếu thuyết phục rằng để có thể xuất khẩu vàng thực nhằm thu về ngoại tệ/nội tệ thực, phải trải qua một công đoạn “ảo hóa vàng” trước, rồi mới có thể “thực hóa tiền” sau?
Xét một khía cạnh khác, với số dư vàng sẵn có trên tài khoản chưa sử dụng hết, nếu cần thanh khoản vàng vật chất trong nước, Bên A có thể yêu cầu Bên B chuyển vàng về Việt Nam thông qua nghiệp vụ hoán đổi vàng vật chất (physical gold swap). Theo đó, Bên A chốt giá bán cho Bên B số dư vàng tài khoản cụ thể, đồng thời chốt giá mua của Bên B số lượng vàng vật chất tương ứng. Giá bán vàng tài khoản và giá mua vàng vật chất trong trường hợp này là cùng một giá (tức Bên A không phải trả chênh lệch giá cho Bên B).
Tuy nhiên, để có thể sở hữu vàng vật chất, Bên A phải trả cho Bên B phí chuyển đổi hình thái từ vàng tài khoản sang vàng vật chất mà thuật ngữ tài chính gọi là phí nhận vàng vật chất (physical premium). Về bản chất, phí nhận vàng vật chất bao gồm: (i) phí chế tác, (ii) phí vận chuyển, và (iii) phí bảo hiểm.
Với tính năng chuyển đổi dễ dàng từ số dư vàng tài khoản thành số lượng vàng vật chất nói trên, không thể gọi vàng tài khoản là vàng ảo được. Nếu vàng trên tài khoản là ảo, thì tiền VND, tiền USD hoặc bất cứ loại tiền tệ nào khác trên tài khoản cũng ảo nốt.


Tới đây, ta thấy rõ tính chất chuyển hóa linh hoạt từ hình thái vàng tài khoản sang hình thái vàng vật chất và ngược lại, tương tự như sự chuyển hóa linh hoạt hai chiều từ tiền mặt thành tiền gửi ngân hàng. Tiền hay vàng nằm trên tài khoản cùng với tính thanh khoản và tính lưu thông thuận tiện của chúng là một phát minh vĩ đại của con người thông qua sự ghi chép sổ sách của hệ thống kế toán.
Tóm lại, trên các thị trường tài chính tiên tiến trên thế giới, vốn đã đi trước Việt Nam hàng trăm năm cũng không có khái niệm vàng ảo. Đôi khi người ta thay thế thuật ngữ “loco London gold” bằng từ ngắn gọn “paper gold”, tức vàng trên giấy tờ sổ sách.
Vì vậy, cần loại bỏ khái niệm “vàng ảo”, mà chỉ nên sử dụng khái niệm vàng tài khoản. Muốn sáng tạo ra một khái niệm mới trong kinh tế, phải hiểu rõ và phản ánh đúng bản chất vấn đề. Ngoài chữ vàng tài khoản ra, có thể sử dụng hai thuật ngữ khác để có thể thay thế như: (i) vàng ghi sổ, (ii) vàng bút tệ.
Về bản chất các thuật ngữ này đều có nội hàm như nhau, và quan trọng hơn hết chúng đều là vàng thực, vì xuất phát điểm cốt lõi của chúng đều dựa trên một tài sản nền có thực (real underlying asset), đó là vàng vật chất có trong tự nhiên.


Trường hợp 2: Kinh doanh vàng ký quỹ không phải là ảo

 
Kinh doanh vàng dưới hình thức ký quỹ phi tập trung (gold margin trading) hoặc dưới hình thức ký quỹ tập trung tại Sàn vàng (gold trading exchange) có sử dụng đòn bẩy tài chính (financial leverage) là một trong những phương thức đầu tư vàng tiên tiến nhất trên thế giới thay cho cách mua bán vàng vật chất vốn ẩn chứa nhiều bất tiện và rủi ro.
Lợi ích của kinh doanh vàng ký quỹ tập trung tại sàn là:
- Tạo cơ hội kinh doanh trong nước cho nhà đầu tư một cách minh bạch thay cho kinh doanh trên mạng quốc tế một cách lén lút.
- Không đòi hỏi nhiều vốn, chỉ yêu cầu thanh toán một khoản ký quỹ ban đầu (initial margin) thay vì 100% giá trị giao dịch.
- Xác định mức lỗ tối đa khi mở trạng thái.
- Tự quyết định mức giá đặt lệnh, và cơ chế khớp lệnh liên tục giúp gia tăng tính thanh khoản của thị trường.
- Việc thanh toán mua bán sẽ được thực hiện bằng cách ghi nợ/ghi có trên tài khoản, giúp giảm thiểu rủi ro tác nghiệp (sai sót trong kiểm đếm, giao nhận, thất lạc hoặc mất mát tiền/vàng), rủi ro thanh toán, rủi ro đối tác so với cách thức giao dịch vàng vật chất ngoài thị trường.
- Nhà nước dễ dàng đo lường quy mô giao dịch của thị trường và có thể áp dụng thu thuế đối với nhà đầu tư và đơn vị tổ chức sàn khi cần thiết.
Vừa qua, có một số ý kiến cho rằng kinh doanh vàng ký quỹ với tỷ lệ ký quỹ ban đầu cao hơn 90% trên tổng quy mô trạng thái 100% mới là không “ảo”. Nếu tỷ lệ ký quỹ ở mức thấp 5% chẳng hạn, phần đòn bẩy tài chính 95% dưới hình thức cho vay được xem là “ảo”. Có thể tóm tắt ý chính của lập luận này là “ảo xảy ra khi tỷ lệ ký quỹ thấp và tỷ lệ cho vay cao”.


Trước tiên, có thể khẳng định ngay rằng kể cả khi mức tỷ lệ ký quỹ giảm xuống dưới 1% cũng không phải là ảo. Về bản chất, tỷ lệ ký quỹ chính là hạn mức chặn lỗ (slop loss limit) của nhà đầu tư. Nếu giá vàng biến động trái với kỳ vọng, nhà đầu tư chỉ lỗ đúng phần tiền đã ký quỹ, không phải lỗ toàn bộ 100% tổng quy mô trạng thái. Tỷ lệ ký quỹ dù ở mức độ nào cũng chỉ là thỏa thuận tự nguyện đã ghi trong hợp đồng giữa nhà đầu tư và đơn vị quản lý sàn.
Trước khi có công cụ kinh doanh vàng ký quỹ trên sàn, nhà đầu tư đã thực hiện kinh doanh vàng truyền thống dưới hình thức vay nợ ngân hàng và thế chấp bằng tài sản hình thành từ nợ vay từ hàng chục năm qua.


Ví dụ, nhà đầu tư muốn đầu tư giá xuống, đến ngân hàng vay vàng, bán vàng cho ngân hàng lấy VND, dùng VND thế chấp tại ngân hàng với tỷ lệ giải ngân theo hạn mức tín dụng do ngân hàng quy định. Nếu ngân hàng duyệt cho vay 95%, nhà đầu tư phải chuẩn bị vốn tự có 5% mới có thể thực hiện giao dịch. Giả sử giá vàng giảm như dự đoán, nhà đầu tư sẽ mua vàng trả nợ cộng lãi vay cho ngân hàng và hưởng lợi nhuận chênh lệch giá vàng.
Về bản chất, cách thức kinh doanh vàng truyền thống và kinh doanh vàng ký quỹ trên sàn là hoàn toàn giống nhau. Vốn tự có 5% chính là tỷ lệ ký quỹ của nhà đầu tư, tỷ lệ giải ngân 95% chính là đòn bẩy tài chính mà ngân hàng cung ứng cho khách hàng.
Nếu xem kinh doanh vàng với tỷ lệ ký quỹ thấp là “ảo” và giả sử nhà đầu tư nhận định đúng xu hướng giá và thu được lợi nhuận cụ thể, liệu phải giải thích như thế nào khi kinh doanh vàng “ảo” mà lại cho ra kết quả lãi “thực”? 


Nếu xem đòn bẩy tài chính 95% trong kinh doanh vàng ký quỹ là “ảo”, vậy tỷ lệ giải ngân 95% trong kinh doanh vàng truyền thống từ trước đến nay là “ảo” hết hay sao?
Hơn 10 năm qua, phần lớn các ngân hàng và doanh nghiệp kinh doanh và cho vay vàng theo cách truyền thống đều có lãi với số liệu hạch toán, kiểm toán minh bạch. Lãi này được phân bổ thành nhiều khoản mục, trong đó có thuế nộp ngân sách và cổ tức trả cho cổ đông. Chẳng lẽ các ngân hàng và doanh nghiệp kinh doanh vàng nộp ngân sách “ảo” và trả cổ tức “ảo”?
Tất cả các trạng thái kinh doanh vàng ký quỹ khi chưa tất toán sẽ ở trong tình trạng lãi/lỗ tiềm năng (potential loss/profit), nhưng khi đã đóng toàn bộ trạng thái, kết quả chung cuộc sẽ là lãi/lỗ thực tế (realised loss/profit) hoặc hòa vốn (break-even), không có lãi/lỗ ảo ở đây.
Tỷ lệ ký quỹ nhiều hay ít, cao hay thấp không liên quan gì đến khái niệm “ảo”. Điều cốt lõi cần thảo luận ở đây đó là để hạn chế tình trạng đầu tư quá mức trong hoạt động kinh doanh vàng ký quỹ, nên quy định chặt chẽ về: (i) mức tỷ lệ ký quỹ hợp lý, (ii) đối tượng khách hàng tham gia, (iii) quy mô tối đa của một giao dịch, (iv) quy mô tổng trạng thái tích lũy tối đa, (v) tổng dư nợ tín dụng tối đa, (vi) cách thức bảo hiểm rủi ro, và (vii) hình thức xử lý vi phạm. 


Trường hợp 3. Quy định “không được rút vàng, chỉ được rút VND” không phải là ảo

 
Có một vài nhận xét cho rằng nếu nhà đầu tư có trạng thái dương vàng trên sàn, nhưng không được rút vàng, mà chỉ được rút VND hoặc rút vàng trả phí, đó là kinh doanh vàng ảo.
Ngược lại, nếu nhà đầu tư được rút vàng bất cứ lúc nào, đó mới là không ảo. Nói ngắn gọn, theo lập luận này “ảo tức là không được rút vàng ra khỏi sàn”.
Tới đây, cần nhấn mạnh một lần nữa rằng hình thái vàng tài khoản (hoặc vàng trên sàn) và hình thái vàng vật chất là hoàn toàn khác nhau. Sự khác nhau về hình thái này tất yếu dẫn đến chi phí vận hành và quản lý đối với chúng cũng khác nhau. Vì vậy, với số dư vàng trên sàn, muốn rút ra dưới dạng vật chất, chắc chắn sẽ phải trả một khoản phí, giống như “phí nhận vàng vật chất” như đã nêu trong trường hợp 1.


Có thể dẫn chứng một trường hợp tương tự về tiền mặt và tiền chuyển khoản. Một ngân hàng Việt Nam có số dư USD trên tài khoản nostro ở nước ngoài, muốn rút ngoại tệ tiền mặt phải trả phí cho ngân hàng nước ngoài. Cứ 1 USD chuyển khoản chỉ đổi được hơn 0,9 USD tiền mặt.
Có một vài nguyên nhân chính về điều khoản “không cho rút vàng”:
- Chi phí lưu kho, bảo quản, vận chuyển… rất tốn kém.
- Tính thanh khoản đặc thù của vàng vật chất là rất kém so với tiền.


- Chính sách xuất nhập khẩu vàng chưa được tự do hóa, tức phải thông qua cơ chế cấp hạn ngạch (quota). Trong điều kiện đặc thù như thế, một khi chính sách chưa giải quyết quy luật cung-cầu vàng ở tầm vĩ mô, không có bên tham gia thị trường nào có thể tự xoay xở đầy đủ nguyên liệu vàng đầu vào để gia công, chế tác thành vàng vật chất cho nhà đầu tư.
Vào thời kỳ giữa những năm 1985, có trường hợp cá nhân và doanh nghiệp đã gửi tiền vào ngân hàng và không thể rút ra theo nhu cầu, nhưng không ai gọi đó là “tiền ảo”, vì người dân hiểu rằng trong từng điều kiện kinh tế đặc thù, việc điều hòa lưu lượng tiền mặt cho cả nền kinh tế đôi khi có những bất cập trong tác nghiệp. 


Tương tự như thế, sự “không-được-rút-ra” đối với vàng không phải là ảo. Điều khoản này phản ánh một thỏa thuận tự nguyện ghi rõ trong hợp đồng giữa nhà đầu tư và đơn vị tổ chức sàn. Nếu thấy điều khoản này bất tiện, nhà đầu tư không nên ký hợp đồng. Nếu thực sự có nhu cầu sở hữu vàng vật chất, nhà đầu tư hoàn toàn có thể tìm đến cách thức giao dịch ngoài sàn như từ trước đến nay. Với điều khoản “không cho rút vàng”, chỉ có thể nói đơn vị tổ chức sàn có sự bất cập trong việc quản lý thanh khoản vàng vật chất.
Thậm chí trong tương lai nếu Nhà nước cho phép tự do hóa luồng dịch chuyển vàng ra vào (free inflows and outflows of gold) trong đó có tự do hóa xuất nhập khẩu vàng như Thái Lan chẳng hạn, mà các đơn vị kinh doanh vàng vẫn áp dụng điều khoản “không cho rút vàng”, điều đó vẫn không phải là ảo. 


Tóm lại, có thể kết luận rằng về bản chất các hình thức kinh doanh vàng đã nêu trong bài phân tích này đều là vàng thực, vì các nhà đầu tư đều kinh doanh trên một tài sản nền có thực.
Trong lúc trà dư tửu hậu ngoài xã hội, có thể nói vui “trong thực có hư, trong hư có thực, thực thực hư hư, hư hư thực thực”. Tuy nhiên, trong kinh doanh và quản lý kinh tế, không thể dung nạp các khái niệm nước đôi theo kiểu “vừa thực, vừa ảo” đan xen lẫn lộn.
Vì vậy:
- “Vàng tài khoản” không phải là ảo, vì đó là một hình thái thể hiện của vàng được ghi chép theo đúng bản chất của sổ sách kế toán.
- “Tỷ lệ ký quỹ thấp” không phải là ảo, vì đó là phần rủi ro tối đa mà nhà đầu tư đã xác định, đối ứng với hạn mức tín dụng mà ngân hàng xét duyệt.
- Điều khoản “không được rút vàng” không phải là ảo, vì điều đó vừa thể hiện một thỏa thuận tự nguyện giữa các bên tham gia ký kết hợp đồng, vừa phản ánh đúng bản chất về tính thanh khoản kém của thị trường vàng trong nước, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế khách quan.


Muốn viết đúng về thị trường vàng, việc trang bị kiến thức cơ bản và cơ sở lý luận là điều cần thiết. Để quản lý và phát triển thị trường vàng một cách minh bạch và hiệu quả, nên tiếp nhận nhiều ý kiến phản biện đa chiều được tích lũy từ những kinh nghiệm thực tiễn, đồng thời đối chiếu với các loại sản phẩm/dịch vụ tiên tiến về vàng trên thế giới mà ta chưa áp dụng, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp đồng bộ để từng bước tiến tới việc thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển của thị trường vàng trong nước so với khu vực, phù hợp với xu thế mở cửa hội nhập ngày càng sâu rộng.
Không có con đường tắt nào vạch sẵn ở phía trước.

Trân trọng.
20:34 | 0 comments

Phiên bản METATRADER4 - MT4 cho Iphone - IFX


MÔ TẢ
PHIÊN BẢN MT4 IPHONE
Là 1 trong những phần mềm giao dịch forex phổ biến nhất trên thế giới, MetaTrader 4, bây giờ đã có thể giao dịch trên Iphone và Ipad. Bạn có thể giao dịch Forex, Vàng Việt Nam - SJC với IFX. Ứng dụng này bạn có thể quản lý tài khoản của bạn trong thị trường tài chính với hơn 30 chỉ báo kỹ thuật.

GIAO DỊCH
TRÊN MT4 IPHONE
  • Báo giá thời gian thực
  • Toàn bộ các lệnh bao gồm cả lệnh chờ
  • Kinh doanh trực tiếp từ biểu đồ
  • Hỗ trợ tất cả các phương thức thực hiện
  • Hoàn tất lịch sử giao dịch

PHÂN TÍCH KỸ THUẬT

  • Đồ thị thời gian thực có thể phóng to và di chuyển
  • 30 chỉ báo phân tích kỹ thuật nổi tiếng nhất
  • 7 khung thời gian : M1, M5, M15, M30, H1, H4 và D1
  • 3 loại biểu đồ : Bars, Japanese Candlesticks and Line

THUẬN TIỆN


  • Giao diện thân thiện với người dùng
  • Khối lượng giao dịch và hạn mức ký quỹ trên biểu đồ
  • Có chế độ offline
  • Tối thiểu lưu lượng truy cập
  • Hãy tải Metatrader 4 trên Iphone và Ipad để có thể giao dịch bất cứ mọi lúc và mọi nơi trên thế giới.

CÀI ĐẶT (IPAD, IPHONE)


Vào App Store -> nhập từ khóa “ metatrader 4 “ và cài trên thiết bị












Chạy Metatrader 4 -> chọn Open Existing Account -> nhập vào từ khóa IFX trên dòng Server ->







Chọn server IFX-Real1 -> nhập số account và password -> sign in.

01:46 | 0 comments

Hướng dẫn cơ bản về các thanh toolbar trong phần mềm giao dịch Metatrader 4

Written By tui laphuongl ke on Thứ Ba, 28 tháng 2, 2012 | 20:19

I. Thanh công cụ Charts: có dạng như sau
image_thumb%25255B5%25255D

- Các mục tương ứng với số 1,2,3 là 3 đồ thị hiển thị trên phần mềm giao dịch.
Nếu bạn chọn mục 1 bạn sẽ có đồ thị dạng thanh (bar chart).
Nếu bạn chọn mục 2 bạn sẽ có độ thị dạng nến (candle stick)—khuyên các bạn nên sử dụng dạng này.
Nếu bạn chọn mục 3 bạn sẽ có đồ thị dạng đường (line chart)
- Các mục tương ứng với số 4 và 5 là công cụ dùng để phóng to (mục 4) và thu nhỏ (mục 5) đồ thị.
- Các mục 6,7 là dùng để dịch chuyển đồ thị
Mục 6, khi chọn mục này thì đồ thị của bạn sẽ tự động dịch chuyển từ phải sang trái.
Mục 7 dùng để dịch chuyển đồ thị sang trái. Bạn có thể bấm vào đây vài lần để trải nghiệm.
- Các mục 8, 9, 10 tương ứng là để chọn công cụ kỹ thuật (mục 8), chọn khung thời gian cho đồ thị (time frame, mục 9) và mục 10 dùng để lưu mẫu đồ thị hoặc mở một mẫu đồ thị.
II. Thanh công cụ Line Study
image_thumb%25255B4%25255D
1. Chọn trỏ chuột
2. Crosshair. chức này dùng để gióng các mức giá cũng như tìm thời điểm, tính số pip (bằng cách giữ chuột trái và kéo tới các điểm cần tính)
3. Vẽ đường line dọc trên đồ thị (dùng để hiển thị thời điểm, chu kỳ…)
4. Vẽ đường line ngang (dùng để vẽ mức hỗ trợ, kháng cự…)
5. Đường trendline dùng để vẽ trendline.
6. Đường channel line dùng để vẽ kênh xu hướng.
7. Dùng để vẽ công cụ Fibonacci
8. Dùng để viết chữ trên đồ thị.
9. Dùng để viết chữ trên đồ thị (chữ sẽ đứng im khi đồ thị di chuyển)
10. Dùng để vẽ một số ký hiệu khác (chọn vào sẽ thấy các ký hiệu hiển thị).
III. Thanh công cụ Periodicity
image_thumb%25255B7%25255D
Như trên hình, các nút đại diện lần lượt cho đồ thị 1 phút, 5 phút, 15 phút, 30 phút, 1 giờ,  4 giờ, 1 ngày, 1 tuần, 1 tháng.
Đối với mỗi loại đồ thị, 1 bar (trên bar chart) hay 1 cột nến trên (candl stick chart) tương ứng với khung thời gian đó.
Ví dụ trên đồ thị H1 (1 giờ) thì mỗi cây nến là 1 giờ. Khoảng thời gian từ 8:00 đến 8:59 sẽ hình thành nên một cột nến.
Trên đây là 3 toolbar cần thiết và cơ bản cho một người mới bước vào làm quen với phần mềm.
Chúc các bạn thành công!

Nguồn: http://www.lamgiautuforex.com/2011/08/huong-dan-co-ban-ve-cac-thanh-toolbar.html
20:19 | 0 comments

Forex

Hàng trăm triệu người trên thế giới đã và đang tham gia vào thị trường Forex, và con số này ngày càng tăng lên với tốc độ chóng mặt. Vậy mục đích của nhà đầu tư vào thị trường Forex là gì? Rõ ràng là để tìm kiếm lợi nhuận! Nhưng thực sự thì thị trường ngoại hối là gì?

FOREX ( Foreign Exchange ) : trao đổi ngoại tệ / ngoại hối
thường được viết là FOREX hay FX hay spot FX, và đây là thị trường tài chính lớn nhất thế giới, với số lượng tiền giao dịch mỗi ngày đã lên dến 4.35 nghìn tỉ USD ( 2010 ). Nếu bạn so sánh với thị trường chứng khoán New York 25 tỉ USD giao dịch mỗi ngày, bạn sẽ có thể tưởng tượng được thị trường này khổng lồ như thế nào.
monster1
Thị trường chứng khoán New York
Đầu tiên bạn cần biết rằng: Tiến chính là một loại hàng hóa đặc biệt và mỗi loại tiền cũng có … “Giá” của nó. Khi bạn mang 21500 vnd ra ngân hàng và mua 1usd, bạn có nghĩ bạn đang mua 1 hàng hóa là usd? Đó chính là bản chất.
Đã là hàng hóa thì cũng có thị trường, Forex chính là thị trường của tiền tề gồm một tập hợp khoảng 4500 tổ chức giao dịch tiền tệ, các ngân hàng quốc tế, các ngân hàng trung tâm của chính phủ và các công ty thương mại. Việc chi trả cho xuất nhập khẩu cũng như việc mua bán tài sản đều phải thông qua thị trường trao đổi ngoại tệ.
Hoạt động giao dịch FOREX có thể sẽ phức tạp đối với nhiều người vì họ không thể mua bán tận tay bất kì thứ gì trong thị trường. Đơn giản bạn hãy nghĩ việc mua 1 đồng tiền nào đó như là mua cổ phần của 1 đất nước. Khi bạn mua đồng Yên Nhật, bạn đang tác dộng đến tỉ giá ngoại hối của Nhật và gián tiếp lên Kinh tế Nhật, do giá trị của động tiền là sự phản chiếu đánh giá của thị trường về “sức khỏe” trong hiện tại và trong tương lai của một quốc gia.
Không như các thị trường tài chính khác, FOREX cũng không có một trung tâm tài chính hay giao dịch nào cả. Thị trường ngoại hối là thị trường “liên ngân hàng”, và dựa trên giao dịch điện tử giữa hệ thống nối kết các ngân hàng với nhau, và hoạt động suốt 24 giờ trong ngày.
Trong thập kỉ trước, chỉ có những “gã khổng lồ” mới gia nhập thị trường này được. Điều kiện tối thiểu nếu bạn muốn giao dịch trong thời gian đó là bạn phải có từ 10 đến 50 triệu USD để bắt đầu. FOREX ra đời lúc đầu nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu của các ngân hàng và các công ty khổng lồ trong ngành, không phải là những “chàng tí hon”. Tuy nhiên, với sự hỗ trợ kì diệu của Internet, hệ thống giao dịch trực tuyến, các công ty giao dịch đã ra đời cho phép mở những tài khoản “lẻ” cho chúng ta. Ngày nay, những nhà môi giới trên thị trường được phép phá vỡ những đơn vị giao dịch rộng lớn và cho phép những giao dịch nhỏ có cơ hội để mua và bán bất cứ số nào trong những giá trị nhỏ hơn này (lots).
Ngân hàng thương mại có 2 vai trò trong thị trường Forex:
1. Làm cho việc giao dịch giữa hai bên trở nên dễ dàng, ví dụ như những công ty muốn trao đổi tiền tệ (người tiêu thụ).
2. Đầu cơ bằng cách mua và bán tiền tệ. Ngân hàng có vai trò trong những đơn vị tiền tệ nhất định bởi vì người ta tin rằng trong tương lai chúng sẽ có giá cao hơn (nếu mua trữ) và thấp hơn (nếu bán sớm). Người ta thống kê rằng 70% lợi tức thường niên của những ngân hàng quốc tế được sinh ra từ việc đầu cơ tiền tệ. Những đầu cơ khác bao gồm những nhà giao dịch thành công nhất trên thế giới ví dụ George Soros.
Loại thứ 3 của Forex bao gồm những ngân hàng trung tâm của các quốc gia khác giống như ngân hàng dự trữ liên bang Mỹ. Họ tham gia Forex để đảm bảo lợi nhuận tài chính của quốc gia họ. Khi ngân hàng trung tâm mua và bán tiền tệ hoặc ngoại tệ thì mục đích là để giữ vững giá trị đồng tiền của đất nước họ.
Forex rất rộng và có rất nhiều người tham gia chứ không phải một người, chỉ có những ngân hàng trung tâm của chính phủ mới có thể kiểm soát thị trường. So sánh với mức giao dịch trung bình hằng ngày 300 tỷ đô của thị trường Trái phiếu chính phủ và khoảng 100 tỷ đô được giao dịch trên thị trường chứng khoán Mỹ thì Forex rất lớn vì đã vượt qua mức 4 nghìn tỷ đô mỗi ngày.
monster2
So với thị trường Forex
Từ “thị trường” là sự nhầm tên nhẹ nhàng trong việc mô tả giao dịch Forex. Không có vị trí trung tâm cho việc hoạt động giao dịch vì nó đã có trong những thị trường tiền tệ ở tương lai. Giao dịch được thực hiện qua điện thoại và thông qua những máy vi tính ở hàng trăm vị trí trên khắp thế giới. Phần lớn giao dịch được thực hiện giữa khoảng 300 ngân hàng quốc tế lớn nơi sở hữu những giao dịch cho công ty lớn, chính phủ và cho chính tài khoản của họ. Những ngân hàng này tiếp tục cung cấp giá (“bid” để mua và “ask” để bán) với nhau và với những thị trường rộng hơn. Chỉ số gần đây nhất từ 1 trong những ngân hàng này được xem là giá hiện tại trên thị trường của đồng tiền đó. Những dịch vụ báo cáo dữ liệu riêng khác nhau cung cấp những thông tin về giá cả “trực tiếp” thông qua internet.
Tất cả những gì bạn cần khi giao dịch là một chiếc máy vi tính, kết nối Internet, và những thông tin về thị trường này.
Sau đây bạn hãy nhìn lại lần nữa sự so sánh khối lượng giao dịch của thị trường ngoại tệ so với các thị trường chứng khoán New York, London, Tokyo như thế nào nhé (tính đến tháng 10/2010)
average-daily-trading-volume
Nhìn vào hình ta thấy thị trường tiền tệ lớn hơn các thị trường khác tới 53 lần! Con số khổng lồ này bao gồm các thị trường ngoại hối trên toàn cầu. Nhưng các nhà đầu tư nhỏ lẻ (là chúng ta) giao dịch ở thị trường giao ngay (spot market) chỉ chiếm khoảng 1.49 nghìn tỷ thôi (cũng lớn hơn nhiều lần các thị trường chứng khoán lớn nhất rồi nhỉ).

Tính ưu việt của thị trường Spot Gold và thị trườngForex:   
dang-ki-tai-khoan-giao-dich1. Không qua trung gian đặt lệnh: Giao dịch vàng và ngoại hối không cần trung gian và cho phép khách hàng giao dịch trực tiếp với thị trường, được cập nhật thông tin trực tiếp về giá vàng và tỷ giá các cặp tiền tệ.
dang-ki-tai-khoan-giao-dich 2. Không giới hạn giao dịch: Trong các thị trường khác hợp đồng giao dịch bị giới hạn bởi một tỷ lệ nhất định (Ví dụ hợp đồng quyền chọn tương lai đối với vàng là 5000 ounces). Trong thị trường này, có thể giao dịch với một tài khoản nhỏ (Mini Acount) 250 USD và không giới hạn tài khoản tối đa.
dang-ki-tai-khoan-giao-dich3. Thị trường giao dịch 24h Không phải chờ đợi thị trường mở cửa và đóng cửa, giao dịch từ tối chủ nhật đến trưa thứ 6 giờ EST, có thể nói thị trường Gold and Forex không bao giờ ngủ. Đây là thuận lợi lớn đối với những người muốn giao dịch trong thời gian rãnh hoặc thời gian thích hợp nhất trong ngày, bởi vì bạn có thể chọn giao dịch bất cứ lúc nào.
dang-ki-tai-khoan-giao-dich4. Không ai có khả năng định hướng thị trường (thao túng thị trường): Thị trường Gold and Forex quá lớn và quá nhiều người tham gia nên không một ai (cho dù cả 1 ngân hàng) có thể kiểm soát nổi thị trường trong dài hạn. Sự can thiệp của NHTW chỉ có tác dụng trongg ngắn hạn và không hiệu quả. NHTW ngày càng có ít tác động hay can thiệp vào thị trường toàn cầu.
dang-ki-tai-khoan-giao-dich 5. Tiền bảo chứng (Margin) hay khoản ký quỹ Trong giao dịch Gold and Forex, 1 khoản tiền bảo chứng nhỏ có thể giúp bạn giao dịch trên 1 khoản tiền lớn hơn nhiều, cho phép bạn có thể thu được lợi nhuận khổng lồ trên khoản tiền đầu tư nhỏ nhưng rủi ro có giới hạn. Ví dụ bạn mở 1 mini account 5000 USD thì bạn sẽ giao dịch trên số tiền 500.000$. Nhưng nếu quản lý rủi ro không tốt thì rủi ro càng cao và bạn có thể mất đi khoản tiền ký quỹ trước khi bắt đầu thu được lợi nhuận.
dang-ki-tai-khoan-giao-dich6. Tính thanh khoản cao  Bởi vì thị trường Gold and Forex quá lớn, nó cũng rất dễ thanh khoản, chỉ cần 1 cái nhấp chuột bạn có thể mua bán ngay lập tức tuỳ ý với giá như mong đợi, bạn không bao giờ bị "kẹt" trong thị trường. Bạn cũng có thể thiết lập chế độ tự động cho giao dịch: kết thúc lệnh giao dịch khi bạn đạt được lợi nhuận mong muốn (Take profit - định mức lãi) hoặc đóng khi thị trường dịch chuyển ngược chiều mong muốn (Stop loss - dừng lỗ).
dang-ki-tai-khoan-giao-dich7. Thị trường 2 chiều  Bạn có thể mua đợi giá lên (lệnh Buy) hoặc bán đợi giá xuống (lệnh Sell - bán khống), mỗi lệnh điều liên quan đến việc bán đồng tiền này và mua đồng tiền kia. Khả năng lợi nhuận tồn tại vì tỷ giá trao đổi (giá cả) luôn luôn dao động. Giao dịch Gold and Forex cho phép thu lời từ cả 2 phía tăng hoặc giảm giá trị loại tiền tệ liên quan trong cặp tiền tệ được giao dịch.
 dang-ki-tai-khoan-giao-dichGiao dịch Forex là lĩnh vực kiếm lời đáng kể hơn cả chứng khoán. Tuy nhiên, lời nhiều thì rủi ro cũng cao nếu bạn không biết cách quản lý nguồn vốn ." Thành công có phương pháp , thất bại có nguyên nhân " . Sau thời gian dài thực tế kinh doanh trên thị trường Chúng tôi sẽ hướng dẫn các bạn cách thức nhận định thị trường và xác định cơ hội tốt nhất để giao dịch. Sau qua trình rèn luyện, ắt hẳn bạn sẽ tìm ra cách thức giao dịch cho riêng mình, khi đó, forex sẽ trở thành thị trường tiềm năng để bạn kinh doanh dài hạn.Bạn mới đến với thị trường có thể hiểu đơn giản như sau: Forex là thị trường 2 chiều, nghĩa là bạn có thể kiếm lợi nhuận khi thị trường đi lên hoặc đi xuống.
Có khá nhiều cặp Forex luôn dao động, có nhiều cặp Forex với giá " Bid " là giá khi bạn bán , " Ask " là giá khi bạn mua . Mỗi khi đặt lệnh sẽ có 1 khoản phí nhỏ gọi là spread (chêng lệch giữa giá Bid và Ask , ví dụ, cặp EurUsd có spread là 2 pip)
dang-ki-tai-khoan-giao-dich Lấy ví dụ đối với cặp GBPUSD ( Bảng Anh đấu với usd ) , khi thị trường đi lên ta sẽ mua vào ( BUY ) và khi giá tăng như nhận định sẽ chốt lời, hệ thống tự động cộng phần lợi nhuận vào tài khoản.Đơn vị tính lợi nh uận trong Fx là “ pip“ Sàn giao dịch Forex.com Uk cho phép đặt lệnh tối thiểu 0.01 lot , mỗi pip = 0.1 usd
dang-ki-tai-khoan-giao-dichMua (Buy) vào khi thị trường đang có xu hướng tăng giá
dang-ki-tai-khoan-giao-dichVà khi thị trường đi xuống: Vào lệnh Sell ( bán )
20:12 | 0 comments

Các dạng sàn giao dịch ngoại hối

Written By tui laphuongl ke on Thứ Sáu, 27 tháng 1, 2012 | 15:28

Bước đầu tiên trong việc chọn một sàn môi giới là tìm ra tiêu chí chọn lựa của bạn. Có 2 dạng công ty môi giới chính: Bàn giao dịch (Dealing Desk) và không có bàn giao dịch (No Dealing Desk). Dealing Desk còn được gọi là các nhà làm giá thị trường (Market Maker), trong khi No Dealing Desk có thể được chia nhỏ ra thành Straight Through Processing (STP) và Electornic Communication Network + Straight Through Processing (ECN+STP)


Dealing Desk hay còn gọi Market Maker là gì ?

Sàn môi giới ngoại hối hoạt động thông qua Dealing Desk kiếm tiền thông qua chêch lệch giá mua bán và giao dịch ngược đối với khách hàng họ, còn gọi là nhà làm giá thị trường. Sàn môi giới với Dealing Desk đúng nghĩa đen là tạo ra một thị trường và tỷ giá trao đổi ngoại hối nhân tạo với khách hàng. Trong khi bạn nghĩ rằng có thể sẽ có sự xung đột lợi ích, nhưng thực sự là không. Các nhà làm giá thị trường cung cấp cả giá bán và mua, có thể hiểu ngầm rằng họ không bị ảnh hưởng với quyết định mua bán của khách hàng.
Khi các nhà làm giá kiểm soát giá cả thị trường, thường sẽ ít bị rủi ro khi họ thiết lập chêch lệch giá mua bán cố định (bạn sẽ hiểu tại sao nó tốt hơn sau này). Các khách hàng của sàn môi giới Dealing Desk sẽ không thấy được tỷ giá thực sự của thị trường liên ngân hàng. Tuy vậy bạn không cần lo sợ, sự canh tranh giữa các sàn môi giới rất gay gắt do đó nếu tỷ giá được cung cấp bởi Dealing Desk không hoàn toàngiống thị trường liên ngân hàng thì cũng chỉ chêch lệch rất nhỏ.
Giao dịch với môi giới Dealing Desk về cơ bản hoạt động như sau :



Hãy nghĩ rằng bạn đặt lệnh mua EUR/USD với khối lượng 100 000 đơn vị với sàn môi giới Dealing Desk. Để thực hiện, sàn môi giới của bạn sẽ bắt đầu cố gắng tìm một lệnh bán phù hợp từ một khách hàng khác hoặc thông qua nhà cung cấp thanh khoản, là một tổ chức lớn sẵn sàng mua hoặc bán một tài sản tài chính.
Bằng cách đó, họ đã gảm thiểu mức rủi ro, khi họ kiếm lợi nhuận từ chêch lệch mua và bán mà không cần nhận giao dịch đối ngược với bạn. Tuy nhiên, trong trường hợp không có giao dịch phù hợp để khớp lệnh, họ sẽ phải nhận bên đối ngược với giao dịch của bạn và từ lúc này thì lợi ích giữa bạn và công ty môi giới cũng sẽ đối ngược nhau. Hãy lưu ý rằng các nhà môi giới khác nhau có chính sách quản lý rủi ro khác nhau, vì thế hãy kiểm tra nhà môi giới của bạn về việc này.



Sàn môi giới No Dealing Desk (NDD) là gì ?


Như tên cho thấy, sàn môi giới No Dealing Desk không chuyển các lệnh giao dịch của khách hàng qua Bàn giao dịch. Điều này có nghĩa là họ không nhận giao dịch đối ngược với khách hàng khi họ chỉ đơn giản là liên kết hai nhóm lại với nhau.




NDD được xây dựng như một chiếc cầu : họ xây dựng một cấu trúc để kết nối hai khu vực với nhau. NDD lấy doanh thu từ khoản phí giao dịch nhỏ hoặc tăng sự chêch lệch giá mua và bán một chút.
No Dealing Desk có thể là STP hoặc STP + ECN.


Thế nào là một sàn môi giới STP ?
Sàn môi giới ngoại hối có một hệ thống STP dẫn đường các lệnh giao dịch của khách hàng trực tiếp đến nhà cung cấp thanh khoản, là tổ chức có quyền truy cập đến thị trường liên ngân hàng. Sàn môi giới NDD STP thường có nhiều nhà cung cấp thanh khoản, và họ cung cấp chêch lệch giá mua và bán riêng .
Ví dụ sàn môi giới NDD STP của bạn có 3 nhà cung cấp thanh khoản khác nhau. Trong hệ thống của họ sẽ có 3 cặp giá mua bán khác nhau.




Hệ thống của họ sẽ sắp xếp giá mua bán từ thấp nhất đến cao nhất. Trong trường hợp này, bạn thấy là giá tốt nhất trong phần giá mua (bid) là 1.3000 (vì bạn muốn bán giá cao) và tốt nhất của giá bán là 1.3001 (vì bạn muốn mua giá thấp). Giá mua bán tốt nhất là 1.3000/1.3001. Do đó nếu STP nào kết nối với càng nhiều nhà cung cấp thanh khoản thì càng có khả năng cung cấp giá tốt nhất cho khách hàng.
Liệu đây có phải là tỷ giá mà bạn sẽ thấy trên phần mềm giao dịch ?

Tất nhiên là không!

Sàn môi giới không phải là một tổ chức từ thiện, để bù cho những trục trặc rắc rối họ gặp phải trong quá trình phân loại và sắp xếp giá mua bán, họ sẽ thêm vào chêch lệch giá mua bán, và nó thường được cố định. Nếu họ quyết định thêm 1 pip, giá mua bán trên phần mềm sẽ là 1.2999/1.3002. Ta sẽ thấy có 3 pips từ 1 pip chêch lệch ban đầu.


Vì vậy khi bạn quyết định mua 100 000 đơn vị đồng EUR/USD ở giá 1.3002, lệnh giao dịch của bạn sẽ được gửi đi thông qua sàn môi giới và dẫn đến nhà cung cấp thanh khoản A hoặc B.
Nếu lệnh của bạn được khớp lệnh, nhà cung cấp thanh khoản A hoặc B sẽ có một lệnh sell 100 000 EUR/USD tại giá 1.3001. Sàn môi giới của bạn sẽ có được 1 pip doanh thu.

Sự thay đổi giá mua bán là nguyên nhân hầu hết các sàn môi giới STP có spread biến động. Nếu spread của nhà cung cấp thanh khoản tăng cao, họ cũng không còn sự lựa chọn nào khác là phải tăng cao spread của họ. Tuy nhiên cũng có một số ít sàn môi giới STP cung cấp Spread cố định.
15:28 | 0 comments

While Lable GainCapital - Your Brand

Written By tui laphuongl ke on Thứ Tư, 2 tháng 11, 2011 | 15:59

# 1  Đối tác

+ Là ngân hàng có nhu cầu cung cấp dịch vụ giao dịch ngoại hối cho khách hàng hiện tại . Có thể tùy biến Flatform giao dịch khớp với các nghiệp vụ ngân hàng 
+ Công ty môi giới : Môi giới chứng khoán, Môi giới kinh doanh Vàng, ngoại hối, các định chế tài chính hoạt động trong lĩnh vực Trading ( Spot Trading ; Future , Option, ... )

# 2 - Các While Label được chuyển giao công nghệ thế nào ?

 + Flatform giao dịch

Giao dịch tất cả sản phẩm hiện có trên Flatform ForexTraderPro ( Mỹ ) và MetatraderUk ( Anh ). Ở Việt Nam, MT4 được ưu tiên hơn do giao diện quản lý thân thiện, Tùy biến,phát triển các công cụ,chiến lược giao dịch tự động không giới hạn .

 + Tùy biến Flatform giao dịch 
+ Các gói sản phẩm Advanced charting tools
+ Chiến lược giao dịch hợp tác với các hãng khác ( Trading Central . Marketet Research , ... ) 
+ Tùy biến tài khoản DEMO với thương hiệu và cách thức riêng .

# 3-  Công nghệ Marketing

+ Công cụ, ứng dụng trưc tuyến 
+ SEO , Phát triển website
+ Qui trình cung cấp dịch vụ tự động
+ Các hình thức đào tạo ( Online Seminar , Ebook , Training course thuộc bản quyền GainCapital )

# 4-  Đồng thương hiệu

 Được hưởng lợi thế uy tín lâu năm trên thương trường của GainCapital - Forex.com để phát triển nhanh hơn .
Trên Flatform giao dịch có thương hiệu của đối tác và qui trình cung cấp dịch vụ chủ yếu do đối tác thiết lập .


# 3 - Điều kiện hợp tác
+ Đối tác ở Việt Nam có giấy phép kinh doanh tại Việt Nam
+ Đối tác trực tiếp xem xét và kích hoạt các tài khoản giao dịch mới 
+ Có phòng Complience ( Để khách hàng phản hồi các khiếu nại về dịch vụ , ... )
+ Trực tiếp thực hiện các giao dịch tài chính ( Khách hàng Deposit - Withdraw qua Đối tác )

15:59 | 0 comments

Giới thiệu về lĩnh vưc môi giới Forex {Introducing Broker}

Giới thiệu về lĩnh vưc môi giới Forex {Introducing Broker}

Hiện nay, ngay cả lĩnh vực môi giới chứng khoán cũng chưa thật sự có trường lớp huấn luyện bài bản thì đối với lĩnh vực thì khái niệm " Môi giới Forex" ắt hẳn khá lạ lẫm với mọi người.Trong bài viết này,tôi sẽ giới thiệu một cách khái quát " Quyền lợi" và " Công việc" của một môi giới Forex [ Gọi tắt là IB-Introducing Broker].
Bài viết này cung cấp những khái niệm cơ bản nhất,Giới thiệu tiềm năng lĩnh vực,quyền lợi và các hoạt động của một nhà môi giới giao dịch FOREX


I. TIỀM NĂNG 
Theo khảo sát của Công ty môi giới InterbankFx,tại Đông Nam Á, dù còn khá mới nhưng thị trường ngoại hối đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm từ phía các nhà đầu tư. Riêng tại Việt Nam, theo ước tính gần đây của Ngân hàng Thế giới, người dân hiện giữ hơn 9,7 tỉ tiền mặt đô la Mỹ, khiến quốc gia này trở thành một thị trường kinh doanh ngoại hối đầy tiềm năng.
Và bạn là người đã biết hoặc lần đầu tiên nghe đến Forex, FOREX hay Foreign Exchange ( ngoại hối)  nghĩa là bạn đang đứng trước một cơ hội lớn, không chỉ là cơ hội nghề nghiệp mà là cơ hội kinh doanh của chính bạn. Hãy bước vào thị trường chung toàn cầu này, nơi hội tựu tất cả các kiều kiện cần và đủ cho các nhà đầu tư, một sân chơi lớn, bình đẳng và đầy cơ hội. Vậy còn bạn thì sao? bạn sẽ là nhà đầu tư nhạy bén biết nắm bắt cơ hội đầy tiềm năng này để khẳng định đẳng cấp và bản lĩnh của mình hay người chậm chân đứng bên lề sân chơi của thời hội nhập.
Vì mục tiêu hướng khách hàng đến thị trường chung Forex nhằm nâng cao sự hiểu biết và kỹ năng giao dịch giúp tối đa hóa cơ hội thành công của nhà đầu tư nên IbBlog đã được thành lập nhằm mang đến các Trader Việt Nam cơ hội hợp tác mở rộng mạng lưới kinh doanh dịch vụ Môi giới với một trong những đối tác uy tín nhất trong làng Broker quốc tế.

II.QUYỀN LỢI CỦA IB
1/ Hoa hồng Rebate
Khi khách hàng vừa đặt một lệnh giao dịch, Ví dụ như trường hợp như ảnh minh họa:
BUY 1 Lot EURUSD
Phí giao dịch ở đây ( Sàn quốc tế ) chỉ có Spread.
Spread = 2 pip. Giá trị mỗi Pip tùy vào khối lượng giao dịch:
Ví dụ: 1 lot thì mỗi Pip trị giá 10$
Khi đó, sàn giao dịch sẽ thu 20$ này và chi cho IB một số Rebate nhất định [ Ví dụ: 0,8 Pip thì IB nhận được 8$]
Lưu ý:
+Đối với một số cặp xxxJPY thì giá trị mỗi Pip cao hơn so với các cặp xyzUSD nên 0,8 pip có giá cao hơn 8$ như ở Ví dụ trên+Khi đăng kí tài khoản môi giới trực tiếp tại Gain Capital-Forex.com Uk,Các Ib chỉ nhận được 0,4-0,6 Pip.
+Hoa hồng Rebate được tích lũy vào tài khoản môi giới IB
2/ Không áp lực chỉ tiêu doanh số
Tại sàn giao dịch Gain Capital-Forex.com không bắt buộc IB phải duy trì số lượng khách hàng hoặc khối lượng giao dịch sau mỗi thời gian nhất định. Chính sách này rất thích hợp với các IB Part-time.
Qui định Withdraw số hoa hồng trong tài khoản chỉ cần 5 live account ( Đã Deposit)

3/ Trade & Pay
Ở nhiều Broker khác như Fxpro,...có qui định các lệnh giao dịch của khách hàng phải có thời gian từ khi mở giao dịch ( open) đến khi đóng giao dịch ( Close) phải lớn hơn 5' thì IB mới nhận được hoa hồng Rebate. Tại Gain Capital-Forex.com Uk không có qui định này. Khách hàng đặt lệnh thì hoa hồng Rebate được Credit ngay vào tài khoản.
Hệ thống Rebate được tính như sau: ( Ví dụ đối với IB nhận được 0,8 pip Rebate )
+ Khi mở giao dịch: 0,4 pip Rebate được nạp ngay vào tai khoản
+ Khi khách hàng đóng giao dịch thì 0,4 pip còn lại sẽ được chuyển vào tài khoản/
4/ Withdraw anytime:
Như đã nêu trên, điều kiện rút tiền từ tài khoản môi giới chỉ cần có 5 tài khoản Live (Đã Deposit)
Ví dụ một IB đã có 5 khách hàng ( Tài khoản Live của họ đã được Deposit), sau một thời gian, 3 khách hàng bỏ cuộc thì hệ thống vận tính số lượng khách hàng là 5 và IB hiển nhiên có quyền rút tiền hoa hồng Rebate vào bất cứ lúc nào. ( Thông thường nên rút khoảng 500$ trở lên)
5/ Có thể giao dịch (trade) số tiền hoa hồng Rebate hoặc rút tiền miễn phí
A/Các IB lưu ý rằng các bạn hoàn toàn có thể Trade số tiền hoa hồng bằng cách:
_Điền thông tin vào Internal Account Transfer Form để chuyển số tiền hoa hồng IB trong tài khoan sang tài khoản giao dịch
Lưu ý:
+Tài khoản giao dịch không được tự đăng kí dưới hệ thống IB của chính mình
+Thông tin trên tài khoản giao dịch phải khớp với thông tin IB
B/ Muốn rút tiền (Withdraw) hoa hồng IB miễn phí thì IB chỉ việc chuyển tiền tưg tài khoản IB sang tài khoản giao dịch và có thể rút tiền về thẻ Visa Debit.
Lưu ý:
Chính sách rút tiền đối với tài khoản giao dịch:
+Tính từ lần Deposit MỚI NHẤT, Trong khoảng thời gian 45 ngày thì Trader chỉ được rút tiền về thẻ Visa Debit. Sau 45 ngày nhưng không vượt quá 6 tháng thì Trader có thể rút tiền qua thẻ Visa (Free) hoặc rút qua chuyển khoản (wire) .
+Quá 6 tháng kể từ lần Deposit mới nhất thì chỉ có một cách duy nhất để rút tiền là qua chuyển khoản (Wire)
III. ĐIỀU KIỆN ĐĂNG KÍ TÀI KHOẢN MÔI GIỚI IB
1/ Có kinh nghiệm trong lĩnh vực giao dịch Forex
2/Kế hoạch phát triển mạng lưới khách hàng ( Các chương trình tiếp thị,Khuyến mãi,...)
3/Trung thực, nhiệt huyết với công việc trên tinh thần hơph tác bền vững.
IV. SỨ MỆNH CỦA IB 
IB là "tay mắt" của thị trường, nên nhiệm vụ của IB là cung cấp thông tin đúng lúc và các giá trị gia tăng cho khách hàng.
Công việc hàng ngày của môi giới Forex-IB cũng tương tự một môi giới chứng khoán.
+ Cập nhật các tin tức tác động đến thị trường (Phân tích cơ bản), Phân tích kỹ thuật để xác định cơ hội giao dịch.
+ Hỗ trợ các vẫn đề liên quan đến tài khoản giao dịch [ Việc này tương tự như một tổng đài viên :)
Các IB cần chuyển bị trước tất cả các câu hỏi liên quan đến tài khoản, Ví dụ:
" Deposit-Nạp tiền vào tài khoản không được ? "
" Withdraw-Rút tiền về tài khoản như thế nào ? "...
+ Tổ chức các buổi Training hỗ trợ các Trader mới đến với thị trường
+Marketing giới thiệu dịch vụ
TÀI LIỆU THAM KHẢO LIÊN QUAN:
1/ Affiliate Marketing là gì?
Khái niệm chung:
Affiliate marketing (tiếp thị liên kết) là một hình thức tiếp thị mà công ty đưa ra chương trình đó (gọi là affiliate program) sẽ trả chiết khấu (bonus) cho người tham gia bán sản phẩm cho họ. Sau khi đăng ký một tài khoản miễn phí, bạn sẽ được cung cấp toàn bộ các công cụ để marketing như các website để kinh doanh, các công cụ trợ giúp, hướng dẫn cho bạn làm việc, hỏi đáp giải đáp vướng mắc...Bạn chỉ lo mỗi việc marketing đưa người đến với website của bạn, các công việc còn lại từ việc từ thanh toán, đến giao nhận hàng cho khách hàng bạn không phải lo.

Do mức chiết khấu hấp dẫn nên Affiliate marketing đã nhanh chóng trở thành một trong những phổ biến nhất và hiệu quả nhất những cách để quảng cáo trên Internet. Những tiền đề của tiếp thị liên kết là rất đơn giản.
Một công ty như eBay chẳng hạn, đi đến một trang web và yêu cầu họ để đặt một biểu ngữ hoặc liên kết với eBay trên trang web của họ. Mỗi khi người dùng nhấp vào biểu ngữ mà eBay và thăm các trang web, các chủ sở hữu của trang web gốc được một hoa hồng. Nó đơn giản như thế đó.
Lịch sử của tiếp thị liên kết đi lại cho khoảng năm 1994. Theo như hầu hết mọi người biết đó là cách tiếp thị mà trang web muốn tiếp thị trả cho các trang web khác để làm tăng lưu lượng truy cập vào website của họ. Trang Internet khổng lồ Amazon.com sớm bắt được xu hướng trên và trở thành trang web tiếp thị liên kết lớn nhất. Ngày nay, việc tiếp thị liên kết được sử dụng theo tùy từng tính chất riêng của mỗi trang web.

Tại sao sử dụng Affiliate marketing?

Một trong những lý do đó tiếp thị liên kết đã chứng minh là có nên phổ biến là nó hoàn toàn dựa trên hiệu suất. Trong hầu hết trường hợp, công ty làm quảng cáo không phải trả một xu duy nhất để các trang web đó là thực hiện quảng cáo của họ, trừ khi có bằng chứng rằng lưu lượng truy cập Internet đã được nâng lên.
Một số trang web quảng cáo đã trả tiền các trang web lưu trữ liên kết của họ không dựa trên số lần IP gốc ghé thăm thông qua liên kết, nhưng trên số lần các quảng cáo biểu ngữ là "thấy". Phương pháp này trình bày tất cả các vấn đề từ những thứ như. số lần click có thể được giả mạo, tuy nhiên không có cách nào để bảo đảm rằng chỉ vì có người truy cập một trang web có logo của bạn trên đó mà họ đã thấy nó hoặc do chính họ đã làm.
Các phương pháp khác của tiếp thị bao gồm các chi nhánh trả tiền khi một liên kết được kèm theo đó là một số loại giao dịch sẽ diễn ra. Điều này có thể nghiêm khắc với các trang web lưu trữ liên kết vì sự quan tâm người sử dụng Internet trung bình là không đủ, trong hầu hết các trường hợp đi theo một liên kết là hoàn thành mua hàng, hoặc điền vào một số biểu mẫu. Các phương pháp thông thường là chỉ cần trả tiền cho một máy chủ trả hoa hồng cho mỗi một địa chỉ IP gốc được dẫn đến trang web của họ.
Trong một vài năm gần đây, chi nhánh tiếp thị đã trở thành một trong những cách hiệu quả nhất để tăng lưu lượng truy cập đến một trang web. Trong nhiều trường hợp, cả nhà quảng cáo các máy chủ lưu trữ đều có lợi nhuận.
Trong tương lai tới, liên kết tiếp thị vẫn sẽ phát triển và kết hợp với các hình thức quảng cáo khác để chiếm ưu thế khi lựa chọn hình thức tiếp thị trực tuyến.
Lĩnh vực Môi giới Forex ở đây cũng thuộc Affiliate Marketing [ Kinh doanh dịch vụ] và có phần "cao cấp" hơn bán hàng đơn thuần. Các Môi giới cần kiến thức chuyên môn và kỹ năng tư vấn,thuyết phục để tạo mối quan hệ lâu dài với khách hàng,đối tác,...
Giới thiệu về lĩnh vưc môi giới Forex {Introducing Broker}
06:52 | 7 comments

Welcome Guys

AforexZ Blog là trang tin bàn luận các chủ đề xoay quanh thị trường, Sàn giao dịch Broker , thông tin khuyến mãi và các phương pháp giao dịch hiệu quả .